Quảng Ninh tiếp tục thực hiện cách ly các hoạt động trong xã hội đến hết ngày 3/5

 

Ngày 22/4, UBND tỉnh Quảng Ninh đã ban hành Công điện số 07/CĐ-UBND về việc Tiếp tục duy trì các giải pháp phòng chống dịch COVID-19 và khôi phục các hoạt động kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh.

 

Hướng dẫn về chi phí khám chữa bệnh BHYT liên quan đến dịch COVID-19

Bộ Y tế vừa có văn bản hướng dẫn tạm thời việc thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế đối với người có thẻ bảo hiểm y tế trong thời gian cách ly y tế tập trung.

 

(Ảnh minh họa: Diệp Anh/TTXVN)

 

Bộ Y tế vừa có văn bản số 2146/BYT-BHYT gửi Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Sở Y tế các tỉnh, thành phố, các bệnh viện, viện có giường bệnh trực thuộc Bộ Y tế và Y tế các bộ, ngành về việc thanh toán chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế liên quan đến dịch COVID-19

 Bộ Y tế cho biết, thực hiện Luật bảo hiểm y tế, Nghị quyết số 37/NQ-CP ngày 29/3/2020 của Chính phủ về một số chế độ đặc thù trong phòng, chống dịch COVID-19, Bộ Y tế hướng dẫn tạm thời việc thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế đối với người có thẻ bảo hiểm y tế trong thời gian cách ly y tế tập trung và một số trường hợp khác trong thời gian dịch bệnh do SARS-CoV-2.

 Đối tượng cách ly y tế tập trung tại cơ sở khám chữa bệnh do SARS-CoV-2, bao gồm người mắc bệnh dịch, người bị nghi ngờ mắc bệnh dịch, người mang mầm bệnh dịch, người tiếp xúc với tác nhân gây bệnh dịch COVID-19; người đang cách ly y tế tại nhà, cách ly y tế tại cửa khẩu nhưng có dấu hiệu tiến triển thành bệnh dịch COVID-19.

 Thanh toán chi phí khám chữa bệnh đối với người có thẻ bảo hiểm y tế đang trong thời gian cách ly y tế tập trung do bệnh dịch COVID-19 phải khám chữa bệnh tại cơ sở khám chữa bệnh.

 Ngân sách nhà nước chi trả gồm chi phí khám chữa bệnh do SARS-CoV-2, bao gồm tiền khám bệnh, tiền giường, dịch vụ kỹ thuật, thuốc, máu, dịch truyền… theo hướng dẫn của Bộ Y tế; phần cùng chi trả chi phí khám chữa bệnh đối với các bệnh khác của người có thẻ bảo hiểm y tế; chi phí khám chữa bệnh ngoài phạm vi chi trả của quỹ bảo hiểm y tế; chi phí thực hiện cách ly y tế.

 Quỹ bảo hiểm y tế thanh toán phần chi phí khám chữa các bệnh khác trong phạm vi được hưởng và mức hưởng bảo hiểm y tế như đối với trường hợp đi khám chữa bệnh đúng tuyến, trừ chi phí do ngân sách nhà nước chi trả nêu trên.

 Thanh toán chi phí khám chữa bệnh đối với người có thẻ bảo hiểm y tế đang điều trị tại cơ sở khám chữa bệnh (không phải là điều trị bệnh do SARS-CoV-2), nhưng phải cách ly y tế do bộ phận, khoa, phòng, khu điều trị hoặc toàn bộ cơ sở khám chữa bệnh phải cách ly y tế...

 Chi phí khám chữa bệnh trước ngày cơ sở khám chữa bệnh phải cách ly y tế do quỹ bảo hiểm y tế và người có thẻ bảo hiểm y tế thanh toán theo quy định hiện hành về bảo hiểm y tế.

 Chi phí khám chữa bệnh từ ngày cơ sở khám chữa bệnh phải cách ly y tế thực hiện thanh toán như sau:

 Ngân sách nhà nước chi trả chi phí khám chữa bệnh đối với bệnh do SARS-CoV-2 (nếu có), bao gồm tiền khám bệnh, tiền giường, tiền dịch vụ kỹ thuật, thuốc, máu, dịch truyền… theo hướng dẫn của Bộ Y tế.

 Phần cùng chi trả chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế đối với các bệnh khác của người có thẻ bảo hiểm y tế; chi phí khám chữa bệnh ngoài phạm vi chi trả của quỹ bảo hiểm y tế; chi phí thực hiện cách ly y tế.

 Quỹ bảo hiểm y tế thanh toán phần chi phí khám chữa các bệnh khác trong phạm vi được hưởng và mức hưởng bảo hiểm y tế như đối với trường hợp đi khám chữa bệnh đúng tuyến cho đến ngày khỏi bệnh được tổng kết bệnh án ra viện, trừ chi phí do ngân sách nhà nước chi trả quy định tại tiết a điểm này.

 

Hệ thống máy quét thẻ bảo hiểm y tế. (Ảnh: Diệp Anh/TTXVN)

Hệ thống máy quét thẻ bảo hiểm y tế. (Ảnh: Diệp Anh/TTXVN)

 

Trường hợp cơ sở khám chữa bệnh bảo hiểm y tế phải cách ly y tế theo quyết định của cấp có thẩm quyền hoặc được cấp có thẩm quyền giao nhiệm vụ khám chữa bệnh cho người nghi nhiễm, nhiễm SARS-CoV-2, Sở Y tế phối hợp với Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố hướng dẫn người đăng ký khám chữa bệnh bảo hiểm y tế ban đầu tại cơ sở khám chữa bệnh đó đến khám chữa bệnh ban đầu tại cơ sở khám chữa bệnh bảo hiểm y tế khác trên địa bàn tỉnh, thành phố; hướng dẫn cơ sở khám chữa bệnh chuyển tuyến khám chữa bệnh phù hợp với tình hình dịch bệnh.

 Bộ Y tế nêu rõ các trường hợp xác định là khám chữa bệnh đúng tuyến:

 Đối với người bệnh đã được cơ sở khám chữa bệnh kê đơn, cấp thuốc (thuốc chống thải ghép, thuốc điều trị ung thư ….), điều trị và đã cấp Giấy hẹn khám lại (gọi tắt là cơ sở khám chữa bệnh đã cấp Giấy hẹn khám lại) nhưng do dịch bệnh, người bệnh không đến khám lại được hoặc không được đến khám, đồng thời các cơ sở khám chữa bệnh khác không có các thuốc này để cấp cho người bệnh.

 Cơ sở khám chữa bệnh đã cấp Giấy hẹn khám lại hướng dẫn điều trị và chuyển thuốc hoặc phối hợp với Công ty dược để chuyển thuốc về cơ sở khám chữa bệnh nơi người bệnh đang cách ly y tế hoặc cơ sở khám chữa bệnh khác để cấp thuốc phù hợp với điều kiện dịch bệnh; thông tin và hướng dẫn người bệnh lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh phù hợp để được cấp thuốc, điều trị.

 Người bệnh được sử dụng Giấy hẹn khám lại của cơ sở khám chữa bệnh đã cấp Giấy hẹn khám lại để đến cơ sở khám chữa bệnh khác để được kê đơn, cấp thuốc, điều trị.

 Cơ sở khám chữa bệnh thực hiện khám, cấp thuốc, điều trị cho người bệnh có trách nhiệm lập, lưu trữ hồ sơ cấp thuốc theo quy định, tổng hợp gửi cho cơ quan bảo hiểm y tế đã ký hợp đồng khám chữa bệnh bảo hiểm y tế với cơ sở khám chữa bệnh; chuyển dữ liệu điện tử lên hệ thống giám định bảo hiểm y tế theo quy định.

 Bộ Y tế lưu ý, cơ sở khám chữa bệnh thống nhất với cơ quan bảo hiểm xã hội nơi ký hợp đồng khám chữa bệnh bảo hiểm y tế trước khi thực hiện để bảo đảm việc trích chuyển dữ liệu điện tử.

 Cơ quan bảo hiểm xã hội tiếp nhận dữ liệu, tổng hợp; thanh toán chi phí khám chữa bệnh cho cơ sở khám chữa bệnh thực hiện khám chữa bệnh theo quy định hiện hành, trừ chi phí thuốc nhận từ cơ sở khám chữa bệnh khác; thanh toán chi phí thuốc cho cơ sở khám chữa bệnh đã chuyển thuốc.

 Đối với người bệnh đã được cơ sở khám chữa bệnh kê đơn, cấp thuốc (thuốc điều trị huyết áp, đái tháo đường ….), điều trị và có hẹn người bệnh khám lại (gọi tắt là cơ sở khám chữa bệnh đã cấp Giấy hẹn khám lại), điều trị nhưng do dịch bệnh, người bệnh không đến khám lại được, nhưng các cơ sở khác đủ điều kiện kê đơn và có thuốc để cấp thuốc, điều trị cho người bệnh. Cơ sở khám chữa bệnh đã cấp Giấy hẹn khám lại thông tin và hướng dẫn người bệnh lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh khác phù hợp để cấp thuốc, điều trị cho người bệnh.

 Người bệnh được sử dụng Giấy hẹn khám lại của cơ sở khám chữa bệnh đã cấp Giấy hẹn khám lại, đến cơ sở khám chữa bệnh khác để được kê đơn, cấp thuốc, điều trị.

 Cơ sở khám chữa bệnh thực hiện khám, cấp thuốc, điều trị cho người bệnh có trách nhiệm lập, lưu trữ hồ sơ khám, cấp thuốc, điều trị theo quy định, tổng hợp chi phí gửi cơ quan bảo hiểm y tế đã ký hợp đồng khám chữa bệnh bảo hiểm y tế với cơ cơ sở khám chữa bệnh.

 Trường hợp không có hợp đồng khám chữa bệnh bảo hiểm y tế thì gửi cơ quan bảo hiểm xã hội trên địa bàn; chuyển dữ liệu điện tử lên hệ thống giám định bảo hiểm y tế theo quy định. Cơ sở khám chữa bệnh thống nhất với cơ quan bảo hiểm xã hội nơi ký hợp đồng khám chữa bệnh bảo hiểm y tế trước khi thực hiện để bảo đảm việc trích chuyển dữ liệu điện tử.

 Trạm y tế cấp xã cấp thuốc cho người bệnh, kể cả trường hợp cấp thuốc tại nhà có trách nhiệm lập, lưu trữ hồ sơ cấp thuốc theo quy định, tổng hợp chi phí gửi cơ sở khám chữa bệnh đã ký hợp đồng với cơ quan bảo hiểm xã hội để tổ chức khám chữa bệnh bảo hiểm y tế tại trạm y tế cấp xã đó.

 Cơ sở khám chữa bệnh đã ký hợp đồng với cơ quan bảo hiểm xã hội để tổ chức khám chữa bệnh bảo hiểm y tế tại trạm y tế cấp xã, tổng hợp chi phí gửi cơ quan bảo hiểm xã hội.

 Cơ quan bảo hiểm xã hội tổng hợp và thanh toán chi phí khám chữa bệnh cho cơ sở khám chữa bệnh theo quy định hiện hành, chi phí này được tính vào chi phí phát sinh của cơ sở khám chữa bệnh.

 Người bệnh được sử dụng Giấy hẹn khám lại của cơ sở khám chữa bệnh nơi người bệnh được hẹn khám lại để đến các cơ sở khám chữa bệnh khác phù hợp để được khám, cấp thuốc, điều trị theo lịch hẹn.

 Sở Y tế phối hợp với bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố hướng dẫn người bệnh đến khám chữa bệnh tại cơ sở khám chữa bệnh bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh, thành phố phù hợp với tình hình dịch bệnh.

 Sử dụng Giấy hẹn khám lại trong thời gian công bố dịch của cấp có thẩm quyền hoặc cơ sở y tế phải cách ly y tế hoặc người bệnh phải cách ly y tế: Người có thẻ bảo hiểm y tế có Giấy hẹn khám lại được đến khám lại không phụ thuộc thời gian hẹn khám lại ghi trên Giấy hẹn khám lại.

 Trường hợp này hệ thống thông tin giám định bảo hiểm y tế của cơ quan bảo hiểm xã hội không bắt lỗi trường thông tin ngày hẹn khám lại.

 Việc kê đơn thuốc điều trị trong thời gian phòng, chống dịch COVID-19: Bác sỹ, y sĩ kê đơn thuốc căn cứ vào tình trạng người bệnh để có thể kê số lượng thuốc sử dụng trong đơn cho người bệnh là người cao tuổi, người mắc bệnh cần điều trị dài ngày tối đa không quá 3 tháng.

 Cơ sở khám chữa bệnh phải cung cấp số điện thoại của cơ sở khám chữa bệnh cho người bệnh để liên hệ khi cần thiết.

 Việc dự trù thuốc điều trị trong thời gian phòng, chống dịch COVID-19: Cơ sở khám chữa bệnh căn cứ vào số lượng người bệnh đến khám và điều trị tại cơ sở để mua sắm, dự trữ thuốc (lưu ý các thuốc điều trị chuyên khoa tim mạch, đái tháo đường, huyết áp, ….).

 Trường hợp người có thẻ bảo hiểm y tế tự đi khám chữa bệnh được cơ sở y tế kết luận không phải áp dụng biện pháp cách ly y tế tập trung, được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán chi phí khám chữa bệnh theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế.

 
 

Theo TTXVN/Vietnam+ - http://baoquangninh.com.vn

"Giãn cách xã hội không có nghĩa là không làm việc"

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân nhấn mạnh điều này khi phát biểu khai mạc phiên họp 44 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, sáng 20/4.

Chủ tịch Quốc hội đánh giá cao sự nỗ lực của các cơ quan Quốc hội và Chính phủ trong việc phối hợp chặt chẽ để điều chỉnh chương trình làm việc linh hoạt, phù hợp.

Trong đó, các Uỷ ban của Quốc hội đã họp trực tuyến để thẩm tra, đảm bảo nội dung trình ra Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Nhiều nội dung lớn cũng được chuẩn bị theo cách thức làm việc mới, trình ra Quốc hội tại Kỳ họp thứ 9 sắp tới.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân

Tuy vậy, Chủ tịch Quốc hội cũng lưu ý, dù Phiên họp lùi hơn một tuần do ảnh hưởng của dịch bệnh, trước đó Tổng Thư ký Quốc hội cũng có văn bản đề nghị các cơ quan liên quan bằng hình thức làm việc phù hợp chuẩn bị kịp thời các nội dung nhưng đến hôm nay vẫn còn thiếu một số tài liệu.

“Điều này cần chú ý. Trong thời gian giãn cách không có nghĩa là không làm việc, để công việc ách tắc. Phải thay đổi phương thức làm việc” – bà Nguyễn Thị Kim Ngân nhấn mạnh.

Chủ tịch Quốc hội cũng đánh giá cao tinh thần khẩn trương của Chính phủ trong tiếp thu ý kiến tại phiên họp bất thường của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, sớm triển khai gói an sinh hỗ trợ người dân gặp khó khăn do dịch Covid-19.

Theo chương trình phiên họp, từ ngày 20-23/4, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về 5 dự án luật, gồm: Dự án luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (cho ý kiến lần 2); Dự án Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (sửa đổi); Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường; Dự án Luật Thỏa thuận quốc tế; Một số vấn đề lớn của dự án Luật Thanh niên (sửa đổi).

Ngoài ra, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội sẽ cho ý kiến về Dự kiến Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2021 của Quốc hội; Phân bổ, sử dụng số tăng thu và tiết kiệm chi của ngân sách trung ương năm 2019; Báo cáo của Chính phủ về việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2019; Báo cáo kết quả giám sát chuyên đề “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em”.

Đặc biệt là cho ý kiến về việc trình Quốc hội phê chuẩn Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA); phê chuẩn Hiệp định Bảo hộ đầu tư Việt Nam - EU (EVIPA); phê chuẩn gia nhập Công ước số 105 của Tổ chức Lao động Quốc tế về xóa bỏ lao động cưỡng bức và Báo cáo chuẩn bị kỳ họp thứ 9, Quốc hội khoá 14.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng dự phòng thời gian để xem xét các nội dung nếu đủ điều kiện.

Theo vov.vn

Quảng Ninh hướng dẫn về hỗ trợ đối tượng khó khăn do tác động của dịch Covid-19

Ngày 13/4, UBND tỉnh ban hành Văn bản số 2359/UBND-TM3 về việc hướng dẫn thực hiện Nghị quyết số 245/2020/NQ-HĐND ngày 31/3/2020 của HĐND tỉnh về hỗ trợ khó khăn do tác động của dịch Covid-19.

Thực hiện Nghị quyết số 245/2020/NQ-HĐND ngày 31/3/2020 của HĐND tỉnh “Về một số nhiệm vụ, giải pháp cấp bách phòng, chống dịch Covid-19 đảm bảo an sinh xã hội và ổn định tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh” (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 245); theo đề nghị của Sở Tài chính tại văn bản số 1502/STC-TCHCSN ngày 9/4/2020, UBND tỉnh hướng dẫn chính sách hỗ trợ cho một số đối tượng khó khăn do tác động của dịch Covid-19 quy định tại Điều 2, Nghị quyết 245 như sau:

I. Đối tượng, nguyên tắc, mức và thời gian hỗ trợ

1. Đối tượng áp dụng: Quy định tại khoản 1, Điều 2 Nghị quyết 245.

2. Điều kiện được hỗ trợ:

2.1. Đối tượng quy định tại Điểm a, Khoản 1, Điều 2, Nghị quyết 245 phải đảm bảo đủ các điều kiện sau:

- Có hộ khẩu thường trú và đang sinh sống trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh;

- Là thành viên thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo theo chuẩn nghèo quốc gia quy định tại Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ và chuẩn nghèo của tỉnh quy định tại Nghị quyết số 202/2019/NQ-HĐND ngày 30/7/2019 của HĐND tỉnh, được UBND các địa phương công nhận vào cuối năm 2019 hoặc Quyết định bổ sung hộ nghèo, hộ cận nghèo tính đến tháng 03/2020 (hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2020);

- Người lao động từ đủ 15 tuổi trở lên bao gồm: Lao động không có giao kết hợp đồng lao động (lao động tự do) và lao động làm việc theo chế độ hợp đồng lao động trong các doanh nghiệp đang tham gia lao động, sản xuất tạo thu nhập cho hộ gia đình, bị mất việc làm do ảnh hưởng của dịch Covid-19, chưa tìm được việc làm mới.

- Trong danh sách hỗ trợ được UBND cấp huyện phê duyệt.

2.2. Đối tượng quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 2, Nghị quyết 245 phải đảm bảo đủ các điều kiện sau:

- Làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc tỉnh được giao tự chủ 100% về tài chính phải nghỉ việc không hưởng lương do ảnh hưởng dịch Covid-19 mà nguồn tài chính của đơn vị không còn đủ khả năng để chi trả.

- Có giao kết hợp đồng làm việc hoặc hợp đồng lao động và tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc trước thời gian nghỉ việc không hưởng lương.

- Trong danh sách hỗ trợ được UBND tỉnh Quyết định hỗ trợ (đối với đối tượng trong đơn vị sự nghiệp công lập thuộc cấp tỉnh), UBND cấp huyện (đối với đối tượng trong đơn vị sự nghiệp công lập thuộc cấp huyện) quyết định.

2. Nguyên tắc, mức hỗ trợ và phương thức hỗ trợ

2.1. Nguyên tắc hỗ trợ:

- Đối tượng hỗ trợ thuộc diện được hưởng chính sách theo quy định tại Nghị quyết số 42/NQ-CP ngày 09/4/2020 của Chính phủ về các biện pháp hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 và chính sách theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 245 thì chỉ được hưởng một chế độ cao nhất.

- Trường hợp người lao động thuộc cả hai đối tượng quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 245 thì chỉ được hưởng một chế độ do đơn vị sự nghiệp sử dụng người lao động đó xem xét đề nghị hỗ trợ, đồng thời đơn vị sự nghiệp có trách nhiệm thông báo tới UBND cấp xã nơi người lao động có hộ khẩu thường trú để biết tránh hỗ trợ trùng lắp;

2.2. Mức hỗ trợ: 1.000.000 đồng/người/tháng.

2.3. Phương thức hỗ trợ: Hỗ trợ trực tiếp bằng tiền cho viên chức, người lao động.

3. Thời gian hỗ trợ.

Thời gian hỗ trợ tính theo thời gian thực tế mà viên chức, người lao động bị mất việc nhưng tối đa không quá 03 tháng, kể từ tháng 4 năm 2020.

- Số ngày làm việc phải nghỉ việc không hưởng lương do ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 tính hỗ trợ: Là số ngày nghỉ việc liên tục 24 ngày tính bằng 1 tháng; số ngày lẻ dưới 12 ngày tính hỗ trợ bằng ½ tháng; từ 12 ngày trở lên tính hỗ trợ bằng 1 tháng.

II. Hồ sơ, trình tự và thời gian thực hiện hỗ trợ

1. Thành phần hồ sơ.

1.1. Đối với đối tượng quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 2, Nghị quyết 245:

- Đơn đề nghị hưởng chính sách hỗ trợ khó khăn của người lao động (Mẫu số 01);

- Bản sao giấy chứng nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo còn hiệu lực đến thời điểm hỗ trợ;

- Bản sao sổ hộ khẩu của hộ nghèo, cận nghèo; trường hợp đối với người lao động làm viêc theo hợp đồng lao động tại các cơ sở kinh doanh hoặc doanh nghiệp có thêm bản sao quyết định chấm dứt hoặc tạm hoãn hợp đồng lao động.

1.2. Đối với viên chức, người lao động quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 2, Nghị quyết 245:

- Văn bản đề nghị của Thủ trưởng đơn vị sự nghiệp kèm theo danh sách người lao động bị mất việc làm do ảnh hưởng dịch bệnh đề nghị hỗ trợ và Bản thuyết minh tài chính chứng minh đơn vị không còn nguồn tài chính để chi trả;

- Đơn đề nghị hưởng chính sách hỗ trợ khó khăn của người lao động (Mẫu số 04);

- Bản sao hợp đồng làm việc (hoặc hợp đồng lao động) của viên chức, người lao động đề nghị hỗ trợ;

- Bản sao Sổ bảo hiểm xã hội (đã chốt thời gian đóng BHXH đến trước thời điểm nghỉ việc);

- Bản sao quyết định tạm hoãn hợp đồng làm việc (đối với viên chức) hoặc quyết định tạm hoãn hợp đồng lao động (đối với người lao động) nghỉ việc không hưởng lương.

2. Trình tự và thời gian thực hiện.

2.1. Đối với người lao động quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 2 Nghị quyết 245:

(1) Người lao động lập hồ sơ theo quy định gửi đến trưởng thôn/bản/khu phố (sau đây gọi tắt là Trưởng thôn).

(2) Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị; căn cứ danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo đã được phê duyệt; Trưởng thôn xác nhận vào giấy đề nghị hưởng chính sách hỗ trợ khó khăn của người lao động, lập danh sách (theo Mẫu số 02) và có văn bản, kèm theo hồ sơ của những người lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo bị mất việc làm do ảnh hưởng của dịch Covid-19 gửi Hội đồng xét duyệt trợ giúp xã hội cấp xã.

(3) Định kì 5 ngày làm việc, Hội đồng xét duyệt trợ giúp xã hội cấp xã tổ chức thẩm định, xét duyệt những người lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo bị mất việc làm do ảnh hưởng của dịch Covid-19 trình Chủ tịch UBND cấp xã (kèm Biên bản của Hội đồng xét duyệt trợ giúp xã hội cấp xã theo Mẫu số 03); đồng thời thực hiện niêm yết công khai theo quy định (lập Biên bản bắt đầu và kết thúc niêm yết sau tối thiểu 15 ngày) danh sách đề nghị UBND cấp huyện hỗ trợ tại Trụ sở UBND cấp xã, Nhà văn hóa khu phố/thôn bản, ... để nhân dân giám sát theo dõi.

(4) Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được Biên bản của Hội đồng xét duyệt trợ giúp xã hội cấp xã, Chủ tịch UBND cấp xã có văn bản (kèm theo hồ sơ của đối tượng) gửi UBND cấp huyện (qua Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội).

(5) Định kì 5 ngày làm việc, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với phòng ban liên quan tổ chức thẩm định, xét duyệt và trình Chủ tịch UBND cấp huyện quyết định hỗ trợ cho đối tượng. Trường hợp đối tượng không đủ điều kiện hưởng, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

(6) Căn cứ Quyết định hỗ trợ của UBND cấp huyện, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội tiếp nhận kinh phí từ ngân sách cấp huyện và tổ chức chi trả hỗ trợ cho đối tượng cho phù hợp với thực tế của địa phương. 

2.2. Đối với đối tượng quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 2 Nghị quyết 245:

(1) Trên cơ sở Đơn đề nghị hưởng chính sách hỗ trợ khó khăn của người lao động và hồ sơ kèm theo, Thủ trưởng đơn vị sự nghiệp rà soát và lập danh sách những viên chức, người lao động (theo Mẫu 05) đủ điều kiện hưởng chính sách hỗ trợ, có văn bản (kèm theo hồ sơ của đối tượng) gửi Cơ quan chủ quản của đơn vị (nếu có) hoặc gửi Sở Lao động - Thương binh và Xã hội (trường hợp đơn vị sự nghiệp không có sở, ngành chủ quản) hoặc Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội (trường hợp đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ 100% thuộc cấp huyện).

(2) Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của đơn vị sự nghiệp:

- Đối với đơn vị sự nghiệp tự chủ 100% thuộc cấp tỉnh: Cơ quan chủ quản cấp trên thực hiện tổ chức thẩm định xét duyệt và có văn bản (kèm theo danh sách và hồ sơ của đối tượng) gửi Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Sở Tài chính để thẩm định, trình UBND tỉnh quyết định phê duyệt danh sách đối tượng hỗ trợ; đối với trường hợp đơn vị sự nghiệp không có sở, ngành chủ quản, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội có trách nhiệm chủ trì phối hợp với Sở Tài chính tổ chức thẩm định; 

- Đối với đơn vị sự nghiệp tự chủ 100% thuộc cấp huyện: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với phòng ban liên quan tổ chức thẩm định, trình UBND cấp huyện quyết định phê duyệt danh sách đối tượng hỗ trợ.

(3) Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận được Quyết định danh sách hỗ trợ của UBND tỉnh (đối với đối tượng thuộc đơn vị sự nghiệp tự chủ 100% thuộc cấp tỉnh), của UBND cấp huyện (đối với đối tượng thuộc đơn vị sự nghiệp tự chủ 100% thuộc cấp huyện), Cơ quan tài chính trình UBND cùng cấp quyết định bổ sung kinh phí cho đơn vị (hoặc qua Sở, ngành chủ quản) để chi trả tiền hỗ trợ cho đối tượng.

III. Nguồn kinh phí và quyết toán kinh phí thực hiện hỗ trợ

1. Nguồn kinh phí thực hiện hỗ trợ:

- Đối với đối tượng được hỗ trợ là người lao động thuộc hộ nghèo, cận nghèo; viên chức, người lao động trong các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ 100% thuộc cấp huyện: Do ngân sách cấp huyện đảm bảo, từ các nguồn lực quy định tại Điều 5, Nghị quyết số 245.

- Đối với đối tượng được hỗ trợ là viên chức, người lao động trong các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ 100% thuộc cấp tỉnh: Do ngân sách tỉnh đảm bảo, từ các nguồn lực quy định tại Điều 5, Nghị quyết số 245.

2. Kinh phí thực hiện hỗ trợ người lao động bị mất việc làm do ảnh hưởng của dịch COVID-19 quy định tại Nghị quyết 245 của HĐND tỉnh, được quyết toán vào chi ngân sách cấp huyện (đối với đối tượng được hỗ trợ là người lao động thuộc hộ nghèo, cận nghèo; viên chức, người lao động trong các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ 100% thuộc cấp huyện), chi ngân sách tỉnh (đối với đối tượng được hỗ trợ là viên chức, người lao động trong các cơ quan đơn vị sự nghiệp thuộc cấp tỉnh), theo Mục lục ngân sách nhà nước hiện hành (Chương của cơ quan, đơn vị được cấp kinh phí để hỗ trợ, Loại 370, Khoản 398, Tiểu mục 7456).

IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội.

- Chủ trì, phối với các sở, ngành, địa phương hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, giải quyết hoặc tham mưu giải quyết (trường hợp vượt thẩm quyền) các vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ.

- Tổng hợp báo cáo UBND tỉnh, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về kết quả thực hiện theo yêu cầu.

2. Sở Tài chính.

- Hướng dẫn các địa phương, cơ quan, đơn vị thực hiện thanh, quyết toán theo quy định của Luật ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật.

- Phối hợp với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn đôn đốc, kiểm tra, giải quyết hoặc tham mưu giải quyết các vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ.

3. Các Sở, ngành.

- Căn cứ chức năng nhiệm vụ quản lý nhà nước được giao để chỉ đạo rà soát, thông kê, thẩm định, đề xuất, chi trả cho đối tượng được hỗ trợ theo đúng quy định, chịu trách nhiệm về danh sách đối tượng đề nghị hỗ trợ.

- Hướng dẫn các đơn vị trực thuộc có đối tượng được hỗ trợ thực hiện thanh, quyết toán theo quy định của Luật ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật.

- Kết thúc đợt hỗ trợ, tổng hợp, báo cáo kết quả hỗ trợ gửi về Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Tài chính để theo dõi và tổng hợp.

4. UBND các huyện, thị xã, thành phố.

- Chỉ đạo các cơ quan chuyên môn:

+ Phòng Lao động - Thương binh và Xã: Chủ trì, phối hợp với cơ quan Tài chính và các cơ quan liên quan của địa phương thực hiện tiếp nhận, thẩm định hồ sơ đề nghị hỗ trợ của các xã, phường, thị trấn chuyển đến, tổng hợp trình UBND cùng cấp quyết định hỗ trợ; thực hiện chi trả cho đối tượng được hỗ trợ đảm bảo đúng quy định.

+ Phòng Tài chính - Kế hoạch: Tham mưu bố trí kinh phí, thực hiện chi trả hỗ trợ cho đối tượng thụ hưởng; thực hiện quyết toán kinh phí hỗ trợ theo quy định của Luật ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật.

- Chịu trách nhiệm về danh sách đối tượng, Quyết định hỗ trợ cho đối tượng là người lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo; người lao động trong các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ 100% thuộc cấp huyện trên địa bàn.

- Kết thúc đợt hỗ trợ, tổng hợp, báo cáo kết quả hỗ trợ gửi về Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Tài chính để tổng hợp và theo dõi.

5. UBND các xã, phường, thị trấn

- Tuyên truyền, phổ biến, niêm yết công khai, hướng dẫn chế độ, chính sách của nhà nước đến người dân và đối tượng thụ hưởng trên địa bàn.

- Tổ chức rà soát, lập danh sách người lao động thuộc hộ gia đình thuộc diện hưởng chính sách hỗ trợ khó khăn do tác động của dịch COVID-19; Họp Hội đồng xét duyệt trợ giúp xã hội; Báo cáo UBND cấp huyện để kịp thời hỗ trợ cho đối tượng; thực hiện công khai hỗ trợ theo quy định.

- Thực hiện niêm yết công khai (lập biên bản bắt đầu và kết thúc niêm yết sau tối thiểu 15 ngày) danh sách đề nghị UBND cấp huyện hỗ trợ tại Trụ sở UBND cấp xã, Nhà văn hóa khu phố/thôn/bản... để nhân dân giám sát theo dõi.

- Kết thúc đợt hỗ trợ, tổng hợp, báo cáo kết quả hỗ trợ trên địa bàn gửi Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Phòng Tài chính để tổng hợp, theo dõi và báo cáo UBND cấp huyện.

Trong quá trình thực hiện nếu có khó khăn, vướng mắc các cơ quan, đơn vị có phản ánh về UBND tỉnh (qua Sở Lao động - Thương binh và Xã hội), để hướng dẫn bổ sung hoặc báo cáo cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết./.

Hướng dẫn thực hiện Nghị quyết số 245/2020/NQ-HĐND ngày 31/3/2020 của HĐND tỉnh về hỗ trợ khó khăn do tác động của dịch COVID-19.pdf

Các mẫu đơn đề nghị hỗ trợ theo Nghị quyết

 

THĂM DÒ Ý KIẾN

Hiện nay, CBYT Bệnh viện ĐKKV Cẩm Phả có thu tiền làm xét nghiệm, nội soi, chụp CT Scaner, chụp cộng hưởng từ... hoặc bán vật tư y tế cho ông/bà trực tiếp tại khoa mà không có hóa đơn thu viện phí hoặc hóa đơn thu tạm ứng theo quy định của Bệnh viện:
  • Votes: (0%)
  • Votes: (0%)
Total Votes:
First Vote:
Last Vote:

Video

You must have the Adobe Flash Player installed to view this player.
You must have the Adobe Flash Player installed to view this player.

Đăng Nhập

Đang có 117 khách và không thành viên đang online

Lượt truy cập

1458871

IP của bạn là: 3.230.154.129
Thời gian: 01-06-2020 03:31:21

Nice Social Bookmark

FacebookTwitterGoogle BookmarksRSS Feed