Phòng bệnh Thalassemia – Vì hạnh phúc gia đình, vì tương lai giống nòi

   Thalassemia hay còn gọi là bệnh tan máu bẩm sinh là do tan máu di truyền. Bệnh nếu không được điều trị thường xuyên, đầy đủ, sẽ làm người bệnh chậm phát triển thể trạng, giảm sức học tập, lao động,… Vì vậy, việc thực hiện các xét nghiệm sàng lọc tiền hôn nhân là vô cùng cần thiết, để sinh ra những con khỏe mạnh.

Truyền máu cho bệnh nhi mắc bệnh Tan máu bẩm sinh tại Bệnh viện Sản Nhi Quảng Ninh

Theo báo cáo của Tổng cục Dân số – Kế hoạch hoá gia đình, Bộ Y tế, Việt Nam có khoảng 13 triệu người, tương đương 13% dân số mang gen bệnh tan máu bẩm sinh. Trong đó, tỷ lệ người đồng bào dân tộc miền núi chiếm tỷ lệ từ 20 – 40%. Mỗi năm có khoảng 8.000 trẻ em sinh ra bị bệnh tan máu bẩm sinh, trong đó khoảng 2.000 trẻ em bị bệnh nặng. Tỷ lệ người bệnh mang gen tan máu bẩm sinh ở vùng miền núi, đặc biệt là ở các đồng bào dân tộc thiểu số cao. Một trong những nguyên nhân chính là do kết hôn cận huyết.

Việt Nam đã có những nỗ lực lớn, song việc điều trị mới chỉ giúp cải thiện tốt cuộc sống của người bệnh chứ không thể chữa khỏi bệnh. Chất lượng sống của các bệnh nhân bị bệnh tan máu bẩm sinh rất thấp, số tử vong lớn. Qua báo cáo, từ năm 2001 đến nay có tới 20% bệnh nhân chết ở lứa tuổi 6 – 7, nhiều em tử vong ở độ tuổi 16 – 17.

Bác sĩ CKI Khúc Thị Ngắm, Trưởng Khoa Nội Nhi, Bệnh viện Sản Nhi Quảng Ninh cho biết: Bệnh Thalassemia có 2 thể là Alpha-Thalassemia và  Beta-Thalassemia. Triệu chứng của Thalassemia bao gồm các triệu chứng của thiếu máu như: Người mệt mỏi, hoa mắt chóng mặt; da nhợt nhạt, xanh xao; có thể vàng da, vàng mắt; nước tiểu vàng sẫm; khó thở khi gắng sức; trẻ chậm lớn…

Bệnh Thalassemia nếu như không được phát hiện và điều trị kịp thời bệnh nhân sẽ phải đối mặt với những biến chứng vô cùng nặng nề như: Biến dạng xương ở mặt, mũi tẹt, răng vẩu; loãng xương, dễ gãy xương; da sạm, củng mạc mắt vàng; sỏi mật; dậy thì muộn ở nữ; chậm phát triển thể chất; suy tim,…

Bác sĩ Diệp Minh Quang, Khoa hỗ trợ sinh sản, phụ trách Đơn vị di truyền – Bệnh viện Sản Nhi Quảng Ninh cho biết: Từ năm 2018, Bệnh viện Sản Nhi Quảng Ninh bắt đầu triển khai kỹ thuật sàng lọc di truyền phôi tiền làm tổ nhằm lựa chọn các phôi không bị bệnh. Với những cặp vợ chồng đã xác định mang gen bệnh Thalassemia muốn sinh con khỏe mạnh, không mang bệnh, thì thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm và sàng lọc phôi với mục đích lựa chọn các phôi không bị bệnh để chuyển vào tử cung. Hiện, Bệnh viện đã thực hiện được cho 10 cặp vợ chồng mang gen bệnh Thalassemia bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm; trong đó có 3 cặp vợ chồng đã có thai và sinh con bình thường. Đến nay, Bệnh viện đã thực hiện được hầu hết các kỹ thuật chẩn đoán đột biến gen Thalassemia, là sàng lọc công thức máu, sắt, ferritin; điện di huyết sắc tố; xét nghiệm chẩn đoán gen Thalassemia.

Cũng theo Bác sĩ Quang, để dự phòng hiệu quả bệnh Thalassemia, tất cả phụ nữ chuẩn bị mang thai hoặc mang thai cần thực hiện xét nghiệm sàng lọc công thức máu để kiểm tra các chỉ số MCV (thể tích trung bình của hồng cầu) hoặc MCH (số lượng huyết sắc tố trung bình). Nếu thai phụ có kết quả MCV và MCH bất thường thì người chồng cần làm xét nghiệm công thức máu. Nếu công thức máu của hai vợ chồng bất thường thì được tư vấn di truyền bệnh Thalassemia. Vì vậy, trước khi kết hôn, các bạn trẻ nên đi xét nghiệm máu để sàng lọc nguy cơ. Trường hợp cả hai người cùng mang gen bệnh tan máu bẩm sinh mà kết hôn nên được các bác sĩ tư vấn trước khi có thai để sinh ra em bé khỏe mạnh, không mang gen bệnh. 

Xét nghiệm sàng lọc bệnh Thalassemia tại Đơn vị di truyền, Bệnh viện Sản Nhi Quảng Ninh

Với chủ đề Ngày Thalassemia Thế giới (08/5/2020) năm nay là “Cha mẹ hãy thực hiện tầm soát, chẩn đoán và điều trị sớm bệnh trước sinh và sơ sinh vì hạnh phúc gia đình, vì tương lai giống nòi”, nhằm tăng cường tuyên truyền, giáo dục cho người dân về nguy cơ của việc kết hôn cận huyết thống với bệnh Thalassemia, góp phần nâng cao chất lượng dân số.

Theo https://suckhoequangninh.vn/phong-benh-thalassemia-vi-hanh-phuc-gia-dinh-vi-tuong-lai-giong-noi/?fbclid=IwAR2SX3xD3InxQbIqL6GWY_OTPVDXMB3KqLv1MzsW4SE0OTQ1gEGdJu4Qyso

Cục An toàn thực phẩm thông tin về các loại nấm độc thường gặp tại Việt Nam

 
   Suckhoedoisong.vn - Đã có liên tiếp các vụ ngộ độc nấm rừng xảy ra, khiến không ít người mất mạng trong thời gian gần đây. Các chuyên gia khuyến cáo nấm độc nhất gây tử vong thường là nấm trông đẹp, bắt mắt và ngon. Do đó, người dân tuyệt đối không hái nấm hoang dại ăn.

Theo Cục An toàn thực phẩm-  Bộ Y tế, Việt Nam có khoảng 50 - 100 loài nấm độc khác nhau. So với các loại ngộ độc khác thì ngộ độc nấm xảy ra ít hơn về số ca, nhưng tỷ lệ tử vong lại rất cao.

Các dấu hiệu nhận diện nấm độc:

1. Nấm có đủ: mũ, phiến nấm, cuống, vòng cuống và bao gốc thường là nấm độc.

2. Bên trong thân cây nấm mầu hồng nhạt, mũ nấm mầu đỏ có vẩy trắng, sợi nấm phát sáng trong đêm là nấm độc

3. Bộ phận độc nằm trong toàn bộ thể quả nấm (mũ, phiến, vòng, cuống, bao gốc nấm), độc tố thay đổi theo mùa, trong quá trình sinh trưởng của nấm, trong môi trường đất đai, khí hậu

Đặc điểm nhận dạng một số loại nấm độc

1. Nấm độc tán trắng (Amanita verna)

- Mọc thành từng cụm hoặc đơn chiếc trên mặt đất trong rừng và một số nơi khác...

- Mũ nấm: Màu trắng, bề mặt mũ nhẵn bóng, lúc non đầu tròn hình trứng, mũ nấm

đính chặt vào cuống. Khi trưởng thành mũ nấm phẳng với đường kính khoảng 5 –

10 cm. Khi già mép mũ có thể cụp xuống.

- Phiến nấm: Màu trắng.

- Cuống nấm: Màu trắng, có vòng dạng màng ở đoạn trên gần sát với mũ.

- Chân cuống phình dạng củ và có bao gốc hình đài hoa.

- Thịt nấm: Mềm, màu trắng, mùi thơm dịu.

- Độc tố chính: các amanitin (amatoxin) có độc tính cao

2. Nấm độc trắng hình nón (Amanita virosa)

- Trông gần giống nấm độc tán trắng

- Mọc thành từng cụm hoặc đơn chiếc trên mặt đất trong rừng và một số nơi khác...

- Mũ nấm: Màu trắng, bề mặt nhẵn bóng, mũ nấm lúc non đầu tròn hình trứng, mép

khum đính chặt vào cuống. Khi trưởng thành mũ nấm thường khum hình nón với

đường kính khoảng 4 – 10 cm.

- Phiến nấm: Màu trắng.

- Cuống nấm: Màu trắng, có vòng dạng màng ở đoạn trên gần sát với mũ. Chân

cuống phình dạng củ và có bao gốc hình đài hoa.

- Thịt nấm: Mềm, màu trắng, mùi khó chịu.

 

-  Độc tố chính: các amanitin (amatoxin), có độc tính cao

3. Nấm mũ khía nâu xám (Inocybe fastigiata hoặc Inocybe rimosa)

- Mọc  trên mặt đất trong rừng, nơi có nhiều lá cây mục nát và một số nơi khác...

- Mũ nấm hình nón đến hình chuông, đỉnh nhọn, có các sợi tơ màu từ vàng đến nâu

tỏa ra từ đỉnh mũ xuống mép mũ nấm.

- Khi già, mép mũ nấm bị xẻ ra thành các tia riêng rẽ; Đường kính mũ nấm 2 –

8cm.

- Phiến nấm lúc non mầu hơi trắng gắn chặt vào cuống nấm và khi già có màu xám

hoặc nâu tách rời khỏi cuống nấm.

- Cuống nấm: Mầu từ hơi trắng đến vàng nâu dài 3-9cm, không có vòng cuống.

- Thịt nấm: mầu trắng

- Độc tố chính: muscarin

4. Nấm ô tán trắng phiến xanh (Chlorophyllum molybdites)

- Mọc thành từng cụm hoặc đơn chiếc ở ven chuồng trâu, chuồng bò, trên bãi cỏ,

ruộng ngô và một số nơi khác...

- Mũ nấm: Lúc còn non hình bán cầu dài, màu vàng nhạt, có các vảy nhỏ màu nâu

nhạt hoặc xám nhạt. Khi trưởng thành mũ nấm hình ô hoặc trải phẳng, màu trắng,

đường kính mũ: 5 – 15 cm . Trên bề mặt mũ nấm có các vẩy mỏng màu nâu bẩn,

vảy dày dần về đỉnh mũ.

- Phiến nấm (mặt dưới mũ nấm): Lúc non có màu trắng, lúc già có ánh màu xanh

nhạt hoặc xanh xám, nấm càng già màu xanh càng rõ.

- Cuống nấm: Màu từ trắng đến nâu hoặc xám, có vòng ở đoạn trên gần sát với mũ.

Chân cuống không phình dạng củ và không có bao gốc; Dài 10 – 30 cm.

- Thịt nấm: Màu trắng

- Độc tính thấp, chủ yếu gây rối loạn tiêu hóa.

Thông tin trên website của Cục An toàn thực phẩm- Bộ Y tế cho biết, trên thực tế có hàng nghìn loại nấm. Tuy nhiên, số loại nấm độc không nhiều, nhưng để phân biệt giữa nấm độc với không độc rất khó, với người dân thường xuyên nhầm lẫn, kể cả với chuyên gia cũng có thể nhầm. Vì vậy người dân hái nấm hoang ăn rất dễ bị ngộ độc.

Nấm độc nhất gây tử vong thường là nấm trông đẹp, bắt mắt và ngon. Do đó, người dân tuyệt đối không hái nấm hoang dại ăn. Nấm hoang dại kể cả nấm màu trắng, nấm nhìn có lành và ngon đến mấy, thậm chí ai đó quả quyết là loại nấm không độc thì cũng không ăn...

Ngộ độc nấm xuất hiện chậm quá 6 giờ sau ăn, có nghĩa là khi đó các chất độc đã vào sâu cơ thể, các biện pháp cấp cứu ban đầu gần như hết tác dụng. Bệnh nhân đến viện muộn, bị tổn thương đường tiêu hóa, viêm gan, suy thận rất dễ tử vong, tỉ lệ tử vong thường rất cao tới 50% hoặc có thể hơn.

 

Theo https://suckhoedoisong.vn/cuc-an-toan-thuc-pham-thong-tin-ve-cac-loai-nam-doc-thuong-gap-tai-viet-nam-n173513.html?fbclid=IwAR10RfziaJrAIkDWpup9vyfiBFXO4x-7421u6BB-nA8YPnVLfehejGvuH2U

Ngành Y tế Quảng Ninh tập huấn chẩn đoán, điều trị Covid-19

Với sự hỗ trợ của Ngân hàng Thế giới và Chính phủ Nhật Bản, ngày 4/5/2020 tại TP. Hạ Long, Sở Y tế Quảng Ninh phối hợp với Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương tổ chức tập huấn “Tăng cường năng lực chẩn đoán, điều trị và đáp ứng nhanh phòng chống bệnh Covid-19” cho 60 học viên là bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên công tác tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập, ngoài công lập trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Đồng chí Nguyễn Tiến Hưng, Phó Giám đốc Sở, Trưởng Tiểu ban điều trị Covid-19 ngành Y tế dự và khai mạc lớp tập huấn.

 

Đồng chí Nguyễn Tiến Hưng, Phó Giám đốc Sở, Trưởng Tiểu ban điều trị Covid-19 ngành Y tế dự và khai mạc lớp tập huấn.

 Phát biểu khai mạc, đồng chí Nguyễn Tiến Hưng cho biết: Hiện nay, trên Thế giới tình hình dịch Covid-19 vẫn đang có những diễn biến hết sức phức tạp. Tại Việt Nam, trong đó có tỉnh Quảng Ninh đã cơ bản kiểm soát thành công dịch bệnh. Tuy nhiên, ở nước ta vẫn còn một số trường hợp bệnh nhân dương tính trở lại sau khi đã điều trị khỏi bệnh. Đặc biệt, thời gian tới khi hết thực hiện giãn cách xã hội, Quảng Ninh sẽ đón các đối tác từ các nơi về làm việc, cho nên nguy cơ tiềm ẩn dịch bệnh là rất lớn. Chính vì vậy, tăng cường năng lực chẩn đoán, điều trị, đáp ứng nhanh trong phòng chống Covid-19 luôn là yêu cầu được đề ra, ngành y tế luôn phải sẵn sàng, tính đến những phương án dự phòng cho tình huống xấu nhất. Đồng chí mong muốn các học viên tham dự tập huấn nghiêm túc học tập, cập nhật kiến thức mới, nâng cao năng lực chuyên môn phục vụ công việc cũng như công tác phòng chống dịch trên địa bàn tỉnh.

Các học viên, giảng viên tham dự tập huấn chụp ảnh lưu niệm

 

Tại lớp tập huấn, các học viên được cung cấp các nội dung: hướng dẫn mới nhất của Bộ Y tế về chẩn đoán và điều trị viêm đường hô hấp cấp tính do chủng vi rút Corona mới (2019-nCoV) theo quyết định số 1344-QĐ/BYT ngày 25/3/2020; xử trí các biến chứng nặng gây viêm phổi cấp phải thở máy,…; quy trình lấy bệnh phẩm, đóng gói và vận chuyển giữa các bệnh viện; thiết lập đội phản ứng nhanh, cấp cứu lưu động tại các đơn vị; chăm sóc người bệnh thở máy, phòng tránh lây nhiễm chéo; biện pháp phòng hộ cá nhân;…

Qua đó, các học viên không chỉ học hỏi, trao đổi kinh nghiệm mà còn được giải đáp thắc mắc từ các chuyên gia đầu ngành đến từ Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, góp phần nâng cao chất lượng y tế tỉnh nhà trong công tác phòng chống dịch Covid-19.

Theo dự kiến lớp tập huấn sẽ được tổ chức tại TP. Hạ Long từ 05 - 06/5/2020 và TP. Móng Cái từ 07 – 09/5/2020.

 Theo http://www.soytequangninh.gov.vn/GD_WS/Tintuc_Chitiet.aspx?NewsId=8816

XƠ VỮA MẠCH VÀNH CHỚ CHỦ QUAN KẺO NHỒI MÁU CƠ TIM!

   Suckhoedoisong.vn - Xơ vữa động mạch vành là căn bệnh thường gặp và nguy hiểm. Thế nhưng, bệnh dễ bị bỏ qua cho đến khi một hoặc nhiều nhánh mạch vành bị tắc nghẽn gây nhồi máu cơ tim. Việc hiểu rõ các dấu hiệu cảnh báo, nguyên nhân và cách xử lý sẽ giúp bạn giảm rủi ro khi mắc căn bệnh này.

Xơ vữa động mạch vành là gì?

Xơ vữa động mạch vành là bệnh lý trong đó các mảng bám được hình thành từ từ và bám vào thành động mạch vành. Mảng bám được tạo thành từ lipid, cholesterol, canxi và các chất khác có trong máu.

Theo thời gian, mảng bám tích tụ càng nhiều, tăng kích thước, khiến cho thành mạch cứng lại, làm giảm đường kính lòng mạch và cản trở lưu thông mạch máu đến nuôi cơ tim. Khi mảng xơ vữa nứt vỡ sẽ tạo ra các cục máu đông lấp kín lòng mạch, gây thiếu máu cục bộ cơ tim. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến  các biến cố tim mạch nguy hiểm như nhồi máu cơ tim, suy tim….

 

 Hình ảnh các động mạch vành bị xơ vữa. (ảnh minh hoạ)

Nguyên nhân gây xơ vữa động mạch vành

Động mạch vành là các mạch máu có chức năng nuôi dưỡng trái tim. Chúng được lót bởi một lớp tế bào mỏng gọi là nội mạc giúp máu chảy trơn tru trong lòng mạch.

Xơ vữa động mạch vành sẽ bắt đầu với các tổn thương nội mạc. Nguyên nhân phổ biến bao gồm:

- Cholesterol cao

- Huyết áp cao

- Viêm khớp hoặc lupus

- Béo phì, tiểu đường

- Hút thuốc

Một khi lớp nội mạc bị thương, mảng bám có thể xuất hiện trong thành động mạch. Mảng bám càng phát triển, nguy cơ gây biến chứng càng cao.

Ai có nhiều nguy cơ bị xơ vữa mạch vành?

Bất cứ ai cũng có thể bị xơ vữa động mạch vành. Nhiều nghiên cứu đã phát hiện ra rằng, căn bệnh này có thể xuất hiện ngay cả ở người trẻ tuổi. Tuy nhiên, nguy cơ sẽ tăng lên khi bạn già đi. Hầu hết những người trên 60 tuổi đều mắc căn bệnh này.

Ngoài ra, nếu bạn có 1 trong những yếu tố dưới đây, bạn cũng dễ bị bệnh xơ vữa động mạch vành hơn.

- Thừa cân, béo phì

- Tiểu đường

- Huyết áp cao, mỡ máu

- Không tập thể dục và ăn rau củ quả thường xuyên.

- Hút thuốc lá, uống nhiều bia rượu.

- Tiền sử gia đình mắc bệnh tim mạch.

- Phụ nữ sau tiền mãn kinh hoặc từng bị tiền sản giật.

Một người có thể có 1 hoặc nhiều yếu tố nguy cơ. Càng nhiều yếu tố nguy cơ, bạn càng dễ bị xơ vữa động mạch vành.

 

Thừa cân, huyết áp cao, mỡ máu là những yếu tố dễ gây xơ vữa mạch vành. (ảnh minh hoạ)

Triệu chứng nhận biết xơ vữa động mạch vành

Khi các động mạch vành của bạn bị hẹp, chúng sẽ không thể cung cấp đủ máu cho tim. Điều này ban đầu có thể không gây ra bất kỳ triệu chứng bất thường nào. Tuy nhiên, khi mảng bám tăng kích thước, bạn có thể gặp phải các triệu chứng bệnh động mạch vành, bao gồm:

- Đau ngực (đau thắt ngực): Đây là triệu chứng điển hình nhất của xơ vữa động mạch vành. Bạn có thể cảm thấy bị đè nén, bóp chặt ở giữa hay bên trái ngực. Triệu chứng này thường xảy ra khi hoạt động gắng sức (đau thắt ngực ổn định) hoặc ngay cả khi nghỉ ngơi, sinh hoạt bình thường (đau thắt ngực không ổn định). Ở một số người, đặc biệt là phụ nữ, tình trạng đau thắt ngực có thể không xuất hiện hoặc xuất hiện thoáng qua với mức độ nhẹ. Người bệnh chỉ cảm thấy nặng, tê, nóng rát vùng ngực hoặc cổ, cánh tay, lưng.

- Khó thở: Ban đầu, khó thở chỉ xuất hiện khi bạn làm việc gắng sức, leo cầu thang. Nhưng theo theo thời gian, cơn khó thở sẽ xảy ra thường xuyên hơn, nhất là vào ban đêm kèm theo mệt mỏi.

- Tim đập nhanh, đánh trống ngực: Thường xảy ra trong giai đoạn đầu. Bạn có thể nghe rõ tiếng tim đập, kèm theo cảm giác hồi hộp, hẫng hụt.

- Đau tim: Động mạch vành bị chặn hoàn toàn sẽ gây ra cơn đau tim. Các dấu hiệu điển hình của một cơn đau tim bao gồm đau thắt ngực, lan xuống vai và cánh tay, đôi khi kèm khó thở và đổ mồ hôi.

Ngoài các triệu chứng kể trên, có một số dấu hiệu không điển hình khác cũng cảnh báo xơ vữa mạch vành. Ví dụ như: mệt mỏi, lo lắng vô cớ, choáng váng, chóng mặt, khó tiêu, buồn nôn/ nôn, khó ngủ...

 

Xơ vữa động mạch vành có nguy hiểm không?

Nhìn chung, xơ vữa động mạch vành là một căn bệnh nguy hiểm. Về lâu dài, tình trạng tắc hẹp mạch vành có thể khiến cơ tim bị suy yếu, gây suy tim. Tuy nhiên, rủi ro biến chứng lớn nhất của căn bệnh này lại nằm ở nguy cơ nhồi máu cơ tim..

Khi mảng xơ vữa chiếm hết toàn bộ lòng mạch hoặc mảng bám nứt ra, tạo huyết khối, mạch vành bị tắc nghẽn hoàn toàn, người bệnh xuất hiện các triệu chứng của nhồi máu cơ tim cấp. Đây là tình trạng nguy hiểm, nếu không được cấp cứu kịp thời, người bệnh có thể tử vong.

Khi người bệnh xuất hiện đau ngực dữ dội, cơn đau kéo dài hơn 20 phút, không đỡ khi nghỉ ngơi và không đáp ứng với các thuốc giãn mạch, cần nhanh chóng đưa người bệnh đến cơ sở y tế gần nhất có trung tâm can thiệp. Nếu tắc các nhánh mạch chính, vùng hoại tử cơ tim lớn, có thể gây ra suy tim cấp, rối loạn nhịp tim hoặc đứt cầu cơ, vỡ tim, thậm chỉ là tử vong…

Theo thống kê có đến 10% người bệnh nhồi máu cơ tim dẫn đến đột tử. Tuy nhiên, với những người bệnh cao tuổi, có bệnh lý đái tháo đường, các biểu hiện của nhồi máu cơ tim không rõ ràng, hoặc không có triệu chứng, tạo ra khó khăn trong phát hiện sớm, chẩn đoán và xử lý kịp thời, người bệnh thường đến viện trong giai đoạn muộn, có nhiều biến chứng.

Nhồi máu cơ tim là biến chứng nguy hiểm nhất của xơ vữa động mạch vành. (ảnh minh hoạ)

Các phương pháp đẩy lùi xơ vữa động mạch vành

Mảng xơ vữa có thể xuất hiện ở bất cứ động mạch nào, không chỉ là mạch vành. Vì vậy, xử lý chứng xơ vữa mạch vành cần kết hợp toàn thân và tại chỗ, phối hợp các phương pháp thay đổi lối sống, sử dụng thảo dược hỗ trợ, dùng thuốc, tiến hành can thiệp và phẫu thuật khi cần thiết. Mục tiêu cuối cùng là ngăn ngừa sự phát triển của mảng xơ vữa, giảm nguy cơ hình thành cục máu đông, giảm triệu chứng và tăng lưu lượng máu đến tim.

Sử dụng thuốc

Thuốc là lựa chọn  ưu tiên cho những người bệnh xơ vữa động mạch vành có triệu chứng hoặc có nguy cơ nhồi máu cơ tim. Tùy vào tình trạng bệnh của bạn mà bác sĩ có thể kê đơn:

- Thuốc giảm mỡ máu: giúp ổn định mảng xơ vữa

- Thuốc chống kết tập tiểu cầu: giúp giảm nguy cơ hình thành cục máu đông gây nhồi máu cơ tim, đột quỵ.

- Thuốc giãn mạch: nhóm chẹn beta, chẹn canxi (giúp giảm đau thắt ngực), nhóm ức chế men chuyển Angiotensin, lợi thiểu (giúp giảm huyết áp, giảm gánh nặng lên tim), nhóm nitrat (giúp giảm nhanh huyết áp, giảm đau ngực)

Dù được kê đơn thuốc nào, bạn cũng cần tuân thủ đúng hướng dẫn của bác sĩ. Tuyệt đối tránh tự ngưng thuốc đột ngột khi chưa tham khảo ý kiến bác sĩ. Bởi điều này có thể khiến bệnh nặng hơn và gây ra các cơn nhồi máu cơ tim đột ngột.

Can thiệp, phẫu thuật

Khi động mạch vành bị xơ vữa nặng, thuốc không còn hiệu quả, người bệnh cần được can thiệp nong mạch đặt stent hoặc phẫu thuật bắc cầu mạch vành. Đặt stent mạch vành là phương pháp được sử dụng thường xuyên hơn nhờ hiệu quả, ít gây đau và thời gian phục hồi sau can thiệp nhanh.

Ngoài 2 phương pháp này, một số bệnh viện lớn đang triển khai chữa trị xơ vữa mạch vành bằng sóng xung kích. Phương pháp này đặc biệt hiệu quả trong những trường hợp khó can thiệp stent hay phẫu thuật.

Sau phẫu thuật, người bệnh vẫn cần duy trì dùng thuốc theo chỉ định của bác sĩ kết hợp thay đổi lối sống để giảm nguy cơ tái tắc hẹp.

Can thiệp, phẫu thuật không chữa khỏi hoàn toàn xơ vữa động mạch vành. (ảnh minh hoạ)

 

Thay đổi lối sống

Thay đổi lối sống có thể làm chậm quá trình xơ vữa mạch máu, giảm nguy cơ đau tim và đột quỵ. Người bệnh nên thực hiện chế độ cân bằng với nhiều rau củ xanh, hạn chế muối, cholesterol xấu (mỡ nội tạng động vật, thức ăn nhanh…), ưu tiên cá, thịt gia cầm, ngũ cốc nguyên hạt như gạo lứt thay cho gạo trắng.

Việc bỏ hút thuốc, hạn chế rượu bia giữ tâm lý thoải mái, tập thể dục thường xuyên(tốt nhất là đi bộ nhanh 30 phút mỗi ngày) cũng giúp bạn kiểm soát bệnh một cách hiệu quả hơn…

Sử dụng thảo dược hỗ trợ

Xu hướng sử dụng các sản phẩm hỗ trợ trong việc đẩy lùi xơ vữa động mạch vành không mới. Nhưng trong vài thập niên trở lại đây, càng có nhiều bằng chứng thuyết phục khẳng định chắc chắn hơn về khả năng giúp cải thiện hiệu quả triệu chứng và biến chứng do mảng xơ vữa gây ra của phương pháp này.

theo https://suckhoedoisong.vn/cho-chu-quan-voi-benh-xo-vua-dong-mach-vanh-n169639.html?fbclid=IwAR3JsQmXcErYRIn022yybE7HKAFazLYGjTQlyx_9kOgCkxD-LEep_Z-5bYA

 

 

 

 

Video

You must have the Adobe Flash Player installed to view this player.

Đăng Nhập

Đang có 113 khách và 2 thành viên đang online

Lượt truy cập

1660948

IP của bạn là: 3.238.8.102
Thời gian: 21-10-2020 13:57:03

LIÊN KẾT FACEBOOK

Facebook